P/E là chỉ số phân tích cơ bản được nhà đầu tư ưa chuộng bởi cách tính đơn giản, dễ áp dụng mà đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên thì nhiều nhà đầu tư có những quan điểm mang tính chủ quan như “P/E cao là tốt”, “P/E thấp là tốt”, vậy thực chất P/E như nào mới là tốt?

Hãy để Go Money giúp bạn có cái nhìn khách quan hơn về chỉ số này!

1. P/E là gì? Cách tính và ý nghĩa của chỉ số P/E

P/E (Price to Earning per share) là chỉ số thể hiện mối quan hệ giữa giá trị hiện tại của cổ phiếu trên thị trường (P) và thu nhập bình quân trên một cổ phần (EPS). Chỉ số này cho biết các nhà đầu tư sẵn sàng trả giá bao nhiêu cho một cổ phiếu trên thị trường chứng khoán hay kì vọng của nhà đầu tư về sự tăng trưởng của cổ phiếu đó. 

Hiểu một cách đơn giản, chỉ số P/E là giá mà nhà đầu tư sẵn sàng chi trả cho một đồng lợi nhuận thu được hàng năm của một cổ phiếu. P/E cao thể hiện độ lạc quan của nhà đầu tư, ngược lại P/E thấp cho thấy sự mất niềm tin của nhà đầu tư vào cổ phiếu  và được tính bằng công thức:

Ví dụ:

Với CTCP Tập đoàn Hòa Phát (HPG) ta có EPS = 3,846 VNĐ và giá thị trường P = 55,400 VNĐ thì ta sẽ tính được P/E = 14.43. Điều này thể hiện rằng nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra 14.43 đồng cho 1 đồng lợi nhuận của HPG.

Cách tính P/E

Dựa vào công thức bên trên, để tính P/E của một doanh nghiệp ta cần xác định 2 yếu tố chính:

  • Price: Giá trị thị trường của cổ phiếu
  • EPS: Thu nhập bình quân trên một cổ phần hay lợi nhuận ròng trên một cổ phiếu

Trong đó EPS là một biến số nhà đầu tư cần phải quan tâm. Bởi đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phiếu thường đang được lưu hành trên thị trường (Tổng số cổ phiếu – cổ phiếu quỹ). EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức:

EPS = (Thu nhập ròng – cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu hành.

Việc tính toán EPS sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường tính theo lượng cổ phiếu lưu hành cuối kì. Cụ thể về EPS bạn có thể tham khảo tại EPS là gì? Tìm hiểu về chỉ số EPS

Ví dụ: Với HPG ta có NI2020 (Net Income) = 13,450,300,000,000 và số lượng cổ phiếu lưu hành 2020 là: 3,313,282,659 nên ta có EPS2020= 4059VNĐ/cổ phiếu hoặc bạn cũng có thể xem ở các website tài chính như FinanceVietstock ta có EPS =  3,846 VNĐ/cổ phiếu là EPS dự phóng ở thời điểm hiện tại.

Chỉ số P/E cao nói lên điều gì và P/E thấp nói lên điều gì?

Đa số những nhà đầu tư đều tưởng rằng P/E cao là tốt và P/E thấp là một tín hiệu xấu cần phải bán tháo cổ phiếu, tuy nhiên đó chỉ là bề nổi và chưa đánh giá hết được sự khách quan của chỉ số này bởi chỉ số ảnh hưởng bởi 2 yếu tố nên cần đánh giá chi tiết.

EPS – Lợi nhuận ròng trên một cổ phiếu

P – Giá trị thị trường của cổ phiếu

EPS cao: nếu chỉ số EPS của một công ty tăng trưởng đều qua các năm chứng tỏ công ty có lãi, lợi nhuận tăng đều, và nếu chỉ số P/E thấp hơn so với đà tăng của EPS là một tín hiệu tốt để mua vào. Tuy nhiên nếu EPS tăng đột biến bởi lợi nhuận từ bán tài sản dẫn đến P/E thấp theo hướng tiêu cực, nhà đầu tư cần chờ đợi xu hướng và tâm lý thị trường

P cao: Nếu EPS thể hiện giá trị thực của doanh nghiệp thì P chính là độ kì vọng của nhà đầu tư vào sự tăng trưởng của nó. P cao thể hiện rằng nhà đầu tư đang kì vọng lớn vào sự tăng trưởng của doanh nghiệp dựa trên những tin tức trong quá khứ

EPS thấp: Ngược lại, chỉ số EPS thấp thể hiện rằng tình hình kinh doanh của doanh nghiệp không tốt hoặc công ty đang gặp phải khó khăn về tài chính, không kiểm soát tốt được lượng vốn lưu động dẫn đến EPS thấp hơn so với các kì

P thấp: Nếu EPS tăng trưởng đều mà P vẫn còn đang trong thời kì điều chỉnh giá (P thấp) thì đây là cơ hội để nhà đầu tư mua vào. Hay nói cách khác là cổ phiếu đang bị đánh giá thấp so với giá trị.

Dựa vào bản trên ta rút ra kết luận rằng là để có thể xem được liệu P/E thấp, P/E cao là có lợi cho doanh nghiệp thì chúng ta phải đi sâu vào từng yếu tố và sự thay đổi của từng yếu tố. Ví dụ với VNM ta có chỉ số P/E qua các năm đều ở mức cao

Nhưng P/E của VNM cao là do kì vọng về sự tăng trưởng của VNM là quá lớn nên điều này hoàn toàn hợp lý và mã VNM vẫn là một mã tốn và đáng để mua vào. Tuy nhiên với ROS có chỉ số P/E = 187, nếu chỉ nhìn qua chỉ số P/E và nghĩ sẽ tăng trưởng mạnh như VNM thì sẽ là một sai lầm lớn bởi bản chất P/E của ROS cao là tại vì EPS quá thấp (30VNĐ /cổ phiếu)

Bên cạnh đó sự thấp cao của P/E nhà đầu tư còn phải xét đến các yếu tố khác như chu kỳ doanh nghiệp, rủi ro của doanh nghiệp và đồng thời cũng phải so sánh với đối thủ cùng ngành hay chỉ số P/E của cả trung bình ngành. Nhờ vậy P/E mới trở nên chính xác và có ý nghĩa

2. P/E bao nhiêu là tốt và cách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E

P/E bao nhiêu là tốt?

Như đã nói ở trên P/E chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó được tham chiếu dựa trên đối thủ, dựa trên chỉ số P/E trung bình ngành. Và nếu như bên trên chỉ xét đến yếu tố cấu thành nên P/E là giá trị thị trường (P) và thu nhập trên một cổ phiếu (EPS) thì ở đây sẽ xét đến các yếu tố vĩ mô:

  • Tình hình kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp:

Khi xem xét P/E hay mức đắt rẻ của một cổ phiếu, bạn phải cân nhắn đến tốc độ tăng trưởng quá khứ và tương lai của cổ phiếu đó. Thông thường, một nhà đầu tư sẽ ưa thích các công ty có tốc độ tăng trưởng tốt liên tục và tình hình kinh doanh ổn định so với thị trường. 

Ví dụ: Nếu một cổ phiếu có P/E quá cao so với thị trường, nhưng đấy lại là một công ty đầu ngành và tình hình kinh doanh của ngành đó đều có P/E cao như vậy thì đây sẽ một cơ hội tốt để nhà đầu tư mua vào.

  • Yếu tố ngành: 

P/E chỉ thực sự hữu dụng khi so sánh các công ty trong cùng lĩnh vực. Ví dụ, P/E của các doanh nghiệp ngành công nghệ, tài chính thường cao, vì có thường có nhiều đổi mới và tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đột phá. Ngược lại, P/E của ngành thủy sản thấp, vì ngành này có biên lợi nhuận thấp do phụ thuộc nhiều vào chi phí nguyên vật liệu đầu vào.

Trong trường hợp này ta cần phải so sánh chỉ số P/E giữa các công ty cùng ngành với nhau để xem rằng công ty nào đang được kì vọng cao và công ty vào đang bị định giá thấp để từ đó nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định phù hợp.

  • Chu kỳ kinh doanh:

Khi xem xét P/E, bạn cần cân nhắc về chu kỳ kinh doanh của cổ phiếu đó. Một doanh nghiệp đang trong giai đoạn đỉnh của chu kỳ kinh doanh, biên lợi nhuận cao sẽ khiến P/E thấp. Trong khi đó, nếu doanh nghiệp đang ở giai đoạn đáy của chu kỳ kinh doanh, P/E sẽ cao.

Ví dụ: Chỉ số P/E cao/thấp thường sẽ mang các ý nghĩa như sau:

Chỉ số P/E cao

Chỉ số P/E thấp

  • Cổ phiếu đang định giá cao.
  • Triển vọng công ty trong tương lai rất tốt.
  • Lợi nhuận ít nhưng mang tính tạm thời
  • Công ty ở vùng đáy chu kỳ kinh doanh – cổ phiếu theo chu kỳ
  • Cổ phiếu đang bị định giá thấp
  • Công ty đang gặp vấn đề (tài chính, kinh doanh…)
  • Công ty xuất hiện lợi nhuận đột biến, do bán tài sản chẳng hạn
  • Công ty ở vùng đỉnh chu kỳ kinh doanh – cổ phiếu theo chu kỳ

Cách định giá cổ phiếu theo phương pháp P/E 

Chỉ số P/E là một trong những chỉ số cơ bản mà hiệu quả được các nhà đầu tư sử dụng thường xuyên để có thể định giá cổ phiếu. Thông thường nhà đầu tư sẽ định giá theo phương pháp P/E để ra giá cổ phiếu vào cuối năm như sau:

P = EPSdự phóng*  P/EPSngành 

Trong đó: 

  • P là giá tại thời điểm cuối năm
  • EPS là giá trị dự phóng vào cuối năm được tính dựa trên những số liệu trong quá khứ và kế hoạch phát triển và tăng trưởng của công ty trong những năm tới.
  • P/EPSngành là giá trị P/E trung bình ngành. Chỉ số P/E trung bình ngành được tính toán sẵn bởi các công ty tài chính, hoặc nhà đầu tư cũng có thể tự tính bằng cách thu thập số liệu P/E của toàn ngành rồi nhân với tỉ trọng vốn hóa thị trường của mỗi doanh nghiệp để ra một P/EPSngành  chính xác.

Về cơ bản, định giá cổ phiếu theo P/E khá là đơn giản và dễ áp dụng bởi không đòi hỏi phân tích số liệu nhiều, chỉ cần thu thập và xử lí thống kê là bạn có thể dự phóng EPS và từ đó tính ra giá trị dự phóng của cổ phiếu trong tương lai.

Tuy nhiên thì phương pháp nãy cũng một số khuyết điểm nhà đầu tư cần phải tự xử lí như thị trường bất ổn khiến cho P/E toàn ngành không được chính xác, và việc so sánh P/E toàn ngành cũng không được quá chính xác bởi mỗi doanh nghiệp có một cấu trúc vốn khác nhau, rủi ro khác nhau và lợi thế thương mại khác nhau

3. Kết luận

Trong một thị trường tài chính biến động, một trăm tổ chức định giá có thể đưa ra một trăm mức định giá khác nhau, bởi lẽ giá trị của cổ phiếu bị tác động vô vàn các yếu tố khác nhau. Vì vậy ngoài chỉ số P/E và EPS, nhà đầu tư cần tham khảo thêm nhiều phương pháp định giá khác như P/BV, P/S hoặc các phương pháp khác như phương pháp chiết khấu cổ tức (DDM), chiết khấu dòng tiền (DCF) để có thể đưa ra quyết định đúng.